Trên một trạm chạy liên tục, ổ đĩa là bộ phận hỏng trước tiên. Bài này bàn cách chọn cấu hình RAID cho IPC847E, quy trình thay ổ khi có sự cố, và ranh giới giữa dự phòng ổ đĩa với sao lưu thật sự.
Thông số đầy đủ, chứng nhận và điều kiện lắp của mã này nằm ở bài trụ SIMATIC IPC847E: thông số, chứng nhận và điều kiện lắp đặt. Phần dưới đây chỉ đi vào một quyết định: cấu hình ổ đĩa nào cho trạm của bạn, và làm gì trong nửa giờ đầu sau khi một ổ báo lỗi.
RAID chống được gì và không chống được gì
Đây là chỗ hay bị hiểu sai nhất, nên nói trước. RAID là cơ chế để máy chạy tiếp khi một ổ vật lý hỏng. Nó không phải bản sao lưu, và không lùi lại được thời gian.
| Sự cố | RAID1 hoặc RAID5 có cứu được không | Cái thật sự cứu được |
|---|---|---|
| Một ổ chết đột ngột giữa ca | Có, máy chạy tiếp ở trạng thái suy giảm | Chính RAID, cộng một ổ dự phòng trong kho |
| Xóa nhầm thư mục dữ liệu ca | Không, thao tác xóa được ghi lên mọi ổ | Bản sao lưu theo lịch, giữ ở máy khác |
| Phần mềm ghi hỏng tệp cấu hình | Không | Bản sao lưu cấu hình trước mỗi lần đổi |
| Mã độc mã hóa dữ liệu trên máy | Không | Bản sao lưu ngoại tuyến, tách khỏi mạng |
| Cháy tủ điện, mất cả máy | Không | Bản sao lưu để ở tòa nhà khác |
| Hỏng bo mạch, máy không lên | Không trực tiếp, nhưng ổ còn nguyên dữ liệu | Một máy dự phòng cùng cấu hình, cộng ảnh khôi phục hệ điều hành |
Đọc bảng này trước khi duyệt cấu hình sẽ tránh được một hiểu lầm tốn kém: nhiều trạm mua RAID rồi bỏ hẳn việc sao lưu, và mất dữ liệu vì một thao tác xóa nhầm chứ không phải vì ổ hỏng.
Ba cấu hình ổ đĩa chọn được trên IPC847E
| Trục dừng máy | Ổ đơn | RAID1 (hai ổ) | RAID5 (ba ổ) |
|---|---|---|---|
| Chịu được mấy ổ hỏng | Không ổ nào | Một ổ | Một ổ |
| Máy có chạy tiếp khi ổ hỏng | Không, dừng ngay | Có, ở trạng thái suy giảm | Có, ở trạng thái suy giảm |
| Dung lượng dùng được | Toàn bộ ổ | Một nửa tổng dung lượng | Tổng trừ dung lượng một ổ |
| Hợp với việc gì | Trạm phụ, dừng được vài giờ | Trạm vận hành và giám sát chạy liên tục | Trạm ghi nhiều dữ liệu, cần dung lượng lớn |
| Thời gian dựng lại mảng sau khi thay ổ | Không có, phải cài lại từ đầu | Ngắn hơn, chỉ chép lại từ ổ còn tốt | Dài hơn, phải tính lại chẵn lẻ trên cả nhóm ổ |
| Rủi ro trong lúc dựng lại | Không áp dụng | Ổ còn lại hỏng nốt thì mất dữ liệu | Ổ thứ hai hỏng trong lúc dựng lại thì mất dữ liệu |
| Nên đặt kèm ổ dự phòng không | Nên có một ổ trong kho | Nên, để mảng tự dựng lại ngay | Nên, vì thời gian dựng lại dài |
Tài liệu của máy nêu mảng dựng được trên ổ đĩa cứng 3,5 inch loại thường hoặc loại dành cho chạy liên tục, hoặc trên ổ thể rắn 2,5 inch. Với trạm ghi dữ liệu suốt ngày, ổ thể rắn giảm hẳn phần hỏng do rung, còn ổ đĩa cứng vẫn có lợi khi cần dung lượng lớn giá thấp.
Nửa giờ đầu sau khi một ổ báo lỗi
- Xác nhận đúng ổ nào hỏng. Đọc trong trình quản lý mảng và đối chiếu với đèn báo trên khoang ổ. Rút nhầm ổ còn tốt của một mảng đang suy giảm là cách nhanh nhất để mất toàn bộ dữ liệu.
- Sao lưu ngay trước khi động vào phần cứng. Mảng đang suy giảm là mảng không còn lớp dự phòng nào. Chép dữ liệu quan trọng ra chỗ khác trước, rồi mới thay ổ.
- Thay ổ trong khoang rút được. Ổ nằm trong khoang rút được thì thay được khi máy đang chạy. Ổ mới phải cùng dung lượng và nên cùng loại với ổ còn lại.
- Theo dõi quá trình dựng lại. Trong lúc dựng lại, máy chậm hơn bình thường. Nếu trạm đang trong ca cao điểm, cân nhắc lùi việc dựng lại sang cuối ca, miễn là dữ liệu đã được sao lưu.
- Bổ sung lại ổ dự phòng trong kho. Việc hay bị quên nhất. Ổ dự phòng vừa dùng xong phải được đặt lại ngay, nếu không lần hỏng sau sẽ thành dừng máy.
Giám sát để biết trước, thay vì biết khi đã muộn
Máy có phần mềm tự chẩn đoán SIMATIC IPC DiagBase hoặc DiagMonitor dạng tùy chọn, theo dõi nhiệt độ, quạt, thực thi chương trình, pin, ổ cứng và nguồn điện dự phòng. Ngoài ra còn có đèn LED trạng thái ở mặt trước và cảnh báo cho quạt và nhiệt độ, cùng đường điều khiển từ xa qua công nghệ quản lý của Intel.
Ba việc nên bật ngay từ ngày lắp máy: cảnh báo trạng thái mảng RAID gửi tới người trực, ghi nhật ký nhiệt độ ổ, và cảnh báo quạt kèm lịch vệ sinh tấm lọc bụi. Nhiệt độ cao kéo dài là nguyên nhân âm thầm rút ngắn tuổi ổ, và nó luôn báo trước nếu có ai đọc cảnh báo. Bộ nhớ có sửa lỗi ECC là tùy chọn đáng cân nhắc cho trạm chạy liên tục, vì nó xử lý một lớp lỗi khác mà RAID không nhìn thấy.
Chọn cấu hình và đặt hàng
Cấu hình ổ đĩa nằm trong mã đặt hàng, nên phải chốt trước khi máy về. Trang sản phẩm của mã này là Máy tính công nghiệp SIMATIC-IPC847E, trong nhóm máy tính công nghiệp Simatic. Trạm nhỏ hơn, chỉ cần RAID1 và ít khe cắm, có thể dừng ở máy hộp SIMATIC IPC627E; trạm vận hành tại máy sản xuất thì xem SIMATIC IPC677E.
Chưa rõ trạm cần mức dự phòng nào thì công cụ chọn máy theo tải và yêu cầu sẵn sàng lọc trước danh sách. Kiến thức nền về dòng thiết bị này nằm ở chuyên mục máy tính công nghiệp Siemens.
Câu hỏi thường gặp
IPC847E hỗ trợ những mức RAID nào?
Tài liệu nêu RAID1 soi gương dữ liệu trên hai ổ, và RAID5 chia dữ liệu kèm chẵn lẻ trên ba ổ để tăng dung lượng dùng được. Cả hai đều có tùy chọn thêm một ổ dự phòng, và mảng dựng được trên ổ đĩa cứng 3,5 inch hoặc ổ thể rắn 2,5 inch.
Có RAID rồi thì còn cần sao lưu không?
Vẫn cần. RAID chỉ chống hỏng ổ vật lý. Nó không cứu được khi xóa nhầm tệp, khi phần mềm ghi hỏng dữ liệu, khi có mã độc, hay khi cả máy gặp sự cố, vì mọi thao tác đều được ghi lên tất cả các ổ trong mảng.
Thay ổ hỏng trên IPC847E có phải dừng máy không?
Nếu ổ nằm trong khoang rút được và mảng đang ở mức RAID1 hoặc RAID5, có thể rút ổ hỏng và lắp ổ mới trong lúc máy vẫn chạy. Việc dựng lại mảng chạy nền và làm máy chậm đi trong thời gian đó, nên nên sao lưu trước và chọn thời điểm ít việc.




